Xứ Việt Nam     XUVN.com

    Xứ Việt Nam   

  Vietnamese Society 

  Food of vietnam  

  Vietnamese Recipes 

   Vietnamese Culture      A glance at Vietnam  

Custom Search
  Vietnamese Music and Performing Arts       Vietnam History    
   Vietnam Reading Tour       Diet and Fitness  
 Quick Tour of Vietnam With Pictures      Vietnamese Music  

Read in Vietnamese - Bằng Tiếng Việt (Việt ngữ)

  Xứ Việt Nam  
A glance at Vietnam
 Vietnam History
Vietnamese Society
Food of vietnam
Vietnamese Recipes
Vietnamese Culture
Vietnamese Music
Vietnamese Music and Performing Arts
Quick Tour of Vietnam With Pictures
Vietnam Reading Tour 
Vietnam Towns in America
Vietnam Town in Canada
Vietnam Town in Australia
Vietnam Communities
Asian Communities in America
Vietnamese Art
Vietnamese Clothing
Modern/Contemporary Vietnamese Music
Vietnamese Music Overview
Vietnamese Singers
Vietnamese Musicians
Vietnamese Dance/ Performing Arts
Vietnam Headline News
Vietnamese Woman Culture 
Vietnamese Beauty- Beautify With Food
Diet & Fitness
Fitness Activities Guide
Vietnamese Traditional   Music
Vietnamese Legends & Folklores
Vietnamese Language
Vietnamese Classical Literature
Vietnamese Values
Vietnamese Religion & Beliefs
Vietnamese History
Vietnamese Customs
Vietnamese Cosmetic Surgery
Vietnamese Dating Culture

Vietnam Tourism

Everything You want to Know to get FIT

TRỊNH CÔNG SƠN

Trinh Cong Son

Trịnh Công Sơn
Birth name Trịnh Công Sơn
Also known as Trịnh
Born February 28, 1939 (age 72)
Origin Huế, Vietnam
Died April 1, 2001 (aged 62)
Instruments Guitar
Years active 1939–2001
Notable instruments Guitar


Trinh Cong Son (Trịnh Công Sơn) (February 28, 1939 – April 1, 2001) was a Vietnamese composer, musician, painter and songwriter. He, along with Pham Duy and Van Cao, is widely considered one of the three most salient figures of modern (non-classical) Vietnamese music.Trinh was born in Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk Province and moved back to his ancestral village, Minh Huong in Huong Tra in Thừa Thiên-Huế Province at the age of 4. The name of his village, Minh Huong was founded in the 17th century when Chinese refugees suggested that Trinh had distant Chinese ancestry dating back to the 17th century, when ethnic Chinese settled en masse in Southeast Asia during the final years of the Ming dynasty to avoid cultural persecution by the Manchus. Trinh's had Chinese ancestry from his paternal side, who over the years had married Vietnamese wives.Trinh Cong Son wrote over 500 songs, and, during the 1960s and 1970s, Joan Baez dubbed him the Bob Dylan of Vietnam for his moving antiwar songs. He became one of South Vietnam's best-known singer-songwriters, after his first hit, Ướt mi (Tearing 'Lashes) in 1958. He was frequently under pressure from the government, which was displeased with the pacifist's lyrics of such songs as Ngủ đi con (Lullaby, about a mother grieving for her soldier son). After the reunification in 1975, Son was sentenced by the new communist government, to "retraining" in a labour camp after his family fled to Canada. However, he was eventually honoured by the government and many officials sent their respects with floral tributes. His often melancholy songs about love and postwar reconciliation earned new acceptance and popularity in later years. Many of his songs have been re-licensed to Vietnamese music companies such as Thuy Nga and Lang Van and sung by other artists. There are two singers' names often associated with Trinh Cong Son. One is Khanh Ly. The other one is Hong Nhung.Khanh Ly, with her unique vocals, helped popularize Trinh Cong Son music in the early years. They often performed together in South Vietnam University Campuses. The voice and the music seemed to be inseparable.
Later on in his life, Hong Nhung, many years his junior, replaced Khanh Ly's place until his death.
Hundreds of thousands of people gathered at his funeral in Ho Chi Minh city, for a spontaneous ad hoc funeral concert, making such a spectacle the largest in Vietnamese history, next to the funeral procession of Ho Chi Minh. His music remains very popular among Vietnamese, old and young.

List of songs

  • Bài ca dành cho những xác người (A song for the human corpses), written in the aftermath of the Hue Massacre
  • Ca dao mẹ (A mother's lament)
  • Cát bụi (Sand and dust)
  • Cho đời chút ơn (Grace onto life)
  • Cho một người nằm xuống (To one who lays down)
  • Cỏ xót xa đưa (Sway sorrow weeds)
  • Cuối cùng cho một t́nh yêu (The end of a romance)
  • Diễm xưa (Diễm of the Past)
  • Đại bác ru đêm (A Lullaby of Cannons for the Night)
  • Đóa hoa vô thường (Evanescent bloom)
  • Em hăy ngủ đi (Love, you should sleep)
  • Em là hoa hồng nhỏ (You are a little rose)
  • Gia tài của mẹ (A mother's legacy)
  • Hạ trắng (White summer)
  • Hát trên những xác người (Singing above the corpses of people), written in the aftermath of the Hue Massacre, not to be confused with "Bài ca dành cho những xác người"
  • Hoa vàng mấy độ (Bright yellow flower)
  • Hoa xuân ca
  • Lặng lẽ nơi này (So silent here)
  • Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (Each day I choose joy)
  • Một cơi đi về (A place for leaving and returning)
  • Mưa hồng (Pink rain)
  • Nắng thuỷ tinh (Crystal sun)
  • Người con gái Việt Nam (A Vietnamese girl)
  • Ngày dài trên quê hương (A long day in the Motherland)
  • Người già em bé (An old person, a baby)
  • Như cánh vạc bay (Like a flying crane)
  • Như một lời chia tay (Like words of good-bye)
  • Nối ṿng tay lớn (Circle of unity)
  • Quỳnh hương (Scent of the ephemeral bloom)
  • Rồi như đá ngây ngô (Not gone at all)
  • Ru đời đi nhé (Lullaby to life)
  • Rừng xưa đă khép (Your old woods are closed)
  • Ta thấy ǵ đêm nay (What have we seen tonight?)
  • Thương một người (To love someone)
  • Tiến thoái lưỡng nan (All ways closed off)
  • T́nh ca của người mất trí ("Ballad of an insane person" or "Love song of a deranged woman")
  • Tôi đang lắng nghe (I am listening)
  • Tôi ơi đừng tuyệt vọng (Dear me, don’t despair)
  • Tôi sẽ đi thăm (I shall visit)
  • Tuổi đá buồn (Stone's age of despair)
  • Ướt mi ("Misty eyes" or "Tearing lashes")

 

Trịnh Công Sơn sinh ngày 2.02.1939 tại Đắc Lắc nhưng quê ở tại Hương Vinh-Huế. Trong tác phẩm “Nhạc và Đời”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kể lại: “Thời thơ ấu luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hằng đêm tôi thường thấy cái chết của ba tôi. Nỗi ám ảnh ấy chắc chắn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi trong những năm kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên 40, chỗ ở chính của ba tôi gần như là nhà tù... Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949 tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi một năm trước khi cả gia đ́nh cùng kéo nhau vào Sài G̣n. Rơ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn quá nhạy cảm của tuổi thơ. Ba tôi mất đi khi tôi vừa mười lăm tuổi”.
Cha mất sớm, là anh trong gia đ́nh gồm 2 người em trai cùng 5 người em gái và một mẹ già mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hết mực thương yêu. Đă có lần Trịnh Công Sơn hé mở đời tư: “Tôi chưa bao giờ học nhạc ở một lớp nhạc nào. Tôi đă tự học, tại Huế, Sài G̣n và Đà Lạt. Tôi sống để sáng tác nhạc”. Trịnh Công Sơn đă đậu tú tài ban Triết, tại trường Chasseloup Laubai, Sài G̣n. Đến tuổi quân dịch Trịnh Công Sơn đă từng nói: “Trốn lính gần như một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ”.
Thời gian trốn lính, Trịnh Công Sơn cho biết: “Tôi đă phải đánh đổi 60 ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm (mỗi năm 30 ngày liên tiếp trước khi tŕnh diện) để đạt được cái mức độ tiêu chuẩn của một người lính. Nhưng muốn xuống ki lô nhanh c̣n phải không ngủ và uống thêm điamox là một thứ thuốc rút bớt nước trong tế bào ra”. Nhà báo Lưu Trọng Văn trong một lần trao đổi với Trịnh Công Sơn cho biết, để trốn lính, Trịnh Công Sơn phải chích thuốc cho đến từ một vơ sĩ, một vận động viên nhảy cao, Trịnh Công Sơn toi tóp chỉ c̣n 27 kư.
Họa sĩ Đinh Cường, người bạn thân tín của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tâm sự: “Có một thời gian Trịnh Công Sơn cùng một ông giáo già dạy một lớp học cho người dân tộc ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Qua khoảng trống trơn của lớp học Sơn đă vẽ nhiều kư họa đẹp và sinh động những người dân tộc trên nương rẫy, dưới ḍng suối mát. Có thể nói Sơn là một trong những người dạy học ở miền núi sớm nhất. Sau đó Sơn cùng Đinh Cường lên sống ở Đà Lạt. Những năm trốn lính có cả Đỗ Long Vân. Lúc đó L.M (Lệ Mai) là một cô gái nhỏ nhắn, tóc bỏ xơa, đi chân trần ra sân có hát những bài hát đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Cũng trong thời gian này Trịnh Công Sơn cho biết: “Lệ Mai ngày trước hát ở Đà Lạt trong một căn pḥng bên đồi lạnh lẽo”.
Lệ Mai (sau này dưới cái tên Khánh Ly) bắt đầu hát ở Night Club Đà Lạt ngày 15.11.1962. Trong một bài viết “Nỗi buồn nhớ quê”, Khánh Ly nói về một nỗi day dứt thương nhớ quê hương như mọi con người Việt Nam có một trái tim biết rung động, c̣n có một cội nguồn: “... Cũng tưởng đời sẽ lêu bêu măi cho đến ngày cuối, nhưng nếu định mệnh là điều có thật, th́ điều đó đă đến với tôi một đêm mưa tại Đà Lạt. Dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng tṛn, gọng đồi mồi, cặp mắt bồ câu, vầng trán cao, rộng, sống mũi thẳng, nụ cười đẹp, tươi với chiếc răng khểnh. Người con trai đó nói với tôi giọng Huế. Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế tuy hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”. Từ Sơn tôi đă thành danh. Năm 1965 Khánh Ly bỏ pḥng trà Đà Lạt về hát cùng Trịnh Công Sơn ở Sài G̣n. Trịnh Công Sơn nhớ lại: “Năm 1964-1965 tôi được các bạn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trồng sau lưng trường Văn Khoa Sài G̣n cũ (nay là Thư viện Quốc gia). Với tôi, đây cũng là buổi thể nghiệm xem ḿnh có thể tồn tại trong ḷng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy ngh́n người gồm đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên tôi cảm thấy ḿnh quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn ghi ta dưới ánh sáng đèn. Với một hành trang nhẹ nhàng bằng hai mươi ca khúc nói về quê hương, ước mơ hoà b́nh và những bài sau này được gọi là “phản chiến”. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bạn thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kể lại: “Từ năm 1965 trở đi, trong ṿng chừng 10 năm, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ phản chiến th́ duy nhất chỉ có một. Đối với người trí thức ở miền Nam, theo chỗ tôi biết, th́ trước khi dấn thân vào lịch sử, ở họ là một thái độ phản chiến. Nhưng Sơn giữ được thái độ ấy, đầu đuôi như một; hơn nữa, Sơn là một nhạc sĩ phản chiến. Ngay từ đầu “Xin mặt trời ngủ yên” đă là một bài hát phản chiến:
            Ôi chinh chiến đă mang đi bạn bè
            Ngựa hồng đă mỏi vỏ chết trên đồi quê hương
            C̣n có ai trên cuộc đời
            Ôi nhân loại, c̣n người và tôi thôi, rồi lang thang như mây trời...”
Suốt 15 năm trầm luân của thế kỷ, Trịnh Công Sơn đă làm xong nhiệm vụ của loài chim báo băo trong lửa đạn. Chẳng lạ ǵ một thời Trịnh Công Sơn tung ra bài hát nào là bài hát ấy nổi tiếng, và cả nhiều thế hệ của tuổi trẻ ở các đô thị xúm lại “ngấu nghiến” những ca khúc của anh. Và theo ḍng nhạc phản chiến ấy, ca khúc “Ngày dài trên quê hương” nếu xét trên phương diện đấu tranh, đúng là ca khúc phản chiến”.
Có lẽ năm 1968 là năm đă ghi vào kư ức Trịnh Công Sơn: “Những bức tường của Thành Nội cũng đầy những vết đạn. Từ lụt lội, băo tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà... Người dân Huế đă phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con, cháu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng xa nhà, từng bậc cửa”. Hăy nghe tiếp lời tâm sự của Trịnh Công Sơn vào năm này: “Ta đă có sẵn hành trang quư giá của hơn bốn ngh́n năm để c̣n măi bước đi trên những lộ tŕnh mới về tương lai. Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đă nằm xuống. Ta phải t́m lại quê hương bằng sức sống mănh liệt v́ trong cơ thể ta đă luân lưu thêm ḍng máu của anh em không c̣n”. Trong một phụ trương báo Le Monde số 7570 ngày 17.5.1969 đă đăng một bài viết: “Trịnh Công Sơn, ca nhân phản chiến tại miền Nam Việt Nam (Trịnh Công Sơn - Chantre de l’antiguerre au Viet Nam du Sud).
Qua năm 1970 là năm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đă hát những sáng tác mới của ḿnh. Các bài: “Chính chúng ta phải nói hoà b́nh”, “Đừng mong ai, đừng nghi ngại”... đă vang lên trong những đêm không ngủ như một sự thách thức, một quyết tâm... Dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên, học sinh Huế đă thực hiện một chương tŕnh “Hát cho Hoà B́nh”. Cũng trong những năm đầu thập niên 70 này “Những tác phẩm của phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh như: “Dậy mà đi của Tôn Thất Lập”, “Người mẹ bàn cờ” của Trần Long Ấn, “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh... Và đặc biệt là ḍng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Đến với âm nhạc sau khi đă qua triết học, Trịnh Công Sơn đă ra khơi một ḍng ca khúc của ḿnh với lối lập ca từ mang nhiều thủ pháp của các trường phái thơ hiện đại như: Tượng trưng, ấn tượng, siêu thực. Mỗi ca khúc của Trịnh Công Sơn là một bài thơ được hát lên, vượt qua mọi trở lực, kỹ thuật của âm nhạc để đến chia sẻ, an ủi con người giữa ác liệt của chiến tranh”.
Lần bước từ năm 1965-1972 ghi dấu một giai đoạn ấn hành tiến tới h́nh thức in thành các tuyển tập t́nh khúc, ca khúc được sắp xếp theo chủ đề khác với giai đoạn đầu từ h́nh thức in rời từng bản khổ lớn). Đặc biệt Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn, mẫu b́a và phụ bản của Đinh Cường. Tác giả ấn hành lần thứ năm gồm 10.000 bản in trên giấy croquis, khổ vuông 18 x 18cm. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhớ lại: “Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hoà b́nh th́ ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hoà b́nh. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen. Tranh anh được in trên các tạp chí nước ngoài và gây được một dư luận rộng răi. Trong phong trào sinh viên, học sinh ở Huế gần như Bửu Chỉ và tôi luôn luôn có mặt bên nhau. Chúng tôi cùng hát với nhau trong những đêm không ngủ, những ngày xuống đường và nhiều nhất là những buổi hát nuôi dưỡng hào khí ở quán cà phê Tổng Hội”.
Riêng tuyển tập Ca khúc da vàng trong những năm ấy có số ấn bản tương đối khá lớn nên đă đi vào “hang cùng ngơ hẻm”. Nhà văn Nguyễn Thuỵ Kha cho biết: “Ngày giải phóng Pleiku, tôi nhặt được cuốn Ca khúc da vàng do Sơn tự ấn hành, cuốn sách không hiểu của ai nhưng có ghi mấy chữ ở b́a: “Mẹ Việt ơi. Hăy ngưng máu đổ thịt rơi. Để chúng con cùng chung vui một nhà. Kỷ niệm ngày 23.2.1969 có thể đó là một trong những người lính Cộng ḥa tự rút chạy khỏi Tây Nguyên.”
Ca sĩ Khánh Ly đă có lần bộc lộ: “Tôi thù ghét chiến tranh bởi mất mát quá lớn cho tôi, cho mọi người”. Trong một lần trao đổi với nhà báo Trần Hữu Lục, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết: “Năm 1969, tôi có kư hợp đồng với hăng Myrica Broadcasting Corporation thu đĩa 10 bài hát trong đó có bài “Diễm xưa” được vô chung kết và phổ biến rộng răi ở Nhật và bài “Ngủ đi con” (do nhóm nhạc phản chiến ở Tokyo hát trước 200.000 người nghe) chiến đĩa vàng, đă phát hành trên hai triệu đĩa. Tôi nhận tác quyền đầy đủ nhưng chỉ hưởng tác quyền 200 ngàn đĩa mà thôi. Sau giải phóng, qua uỷ quyền cho thân nhân ở nước ngoài, hăng này tiếp tục trả tác quyền cho tôi và năm 1979 là đợt tra cuối cùng”. Cô Michiko Yoshii, người đă bảo vệ đề tài Cao học tại Đại học Paris VII về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn. Trong phần luận án Michiko viết: “Đọc một trăm bài viết về một bài hát không bằng nghe biểu diễn một bài hát”. Mở đầu buổi bảo vệ luận án, cô Michiko nâng đàn lục huyền cầm, vừa đệm đàn, vừa hát hai bài “Đại bác ru đêm” và “Ngủ đi con”. Theo Michiko, tại Nhật nhạc Trịnh Công Sơn được phổ biến nhiều nhất so với các nhạc sĩ Việt Nam khác được dịch ra tại Nhật hay được đặt lời mời trên giai điệu của những bài hát quen thuộc”. Để làm đề tài này, Michiko đă bỏ ra 4 năm t́m hiểu về thân thế tác giả, về âm nhạc, về ngôn ngữ văn học trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Thành công của luận án là vạch ra được trong thế giới tâm hồn dân tộc có chiều mở ra với quốc tế, khả năng vượt ra thời gian và không gian của một tài năng nghệ thuật độc đáo. Luận án đạt điểm 17/20, là điểm cao nhất từ khi thành lập Phân khoa tiếng Việt của trường Đại học Jussieu (Pháp).
Một số ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn được dịch ra tiếng Nhật và tiếng Anh. Nhà báo Quốc Bảo đă phỏng vấn ca sĩ Hồng Nhung: “Có cách nào làm cho nhạc Việt gần lại với nhạc thế giới không?”. Hồng Nhung: Theo em có hai cách. Một là nhạc sĩ Việt viết trực tiếp bằng tiếng Anh. Cách thứ nh́ dễ hơn, đó là dịch những bài có sẵn sang tiếng Anh như nhạc ông Sơn chẳng hạn, một người bạn Mỹ đă dịch: “Người con gái Việt” và “Đại bác ru đêm” ra lời Anh Ngữ rất hay. Em thấy như Văn Cao, Trịnh Công Sơn - nhạc của họ đă vượt ra ngoài biên giới đất nước”. Nhớ lại buổi bảo vệ luận án cao học về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, theo lời đề nghị của GS.Phạm Đạng B́nh, Michiko kết thúc buổi bảo vệ bằng bài hát: “Ca dao mẹ”, dịch ra tiếng Nhật, và “Nối ṿng tay lớn”. Mọi người có mặt vỗ tay hát theo bài này.

HỒ VĨNH
(nguồn: TCSH số 146 - 04 - 2001)

    Xứ Việt Nam   

  Vietnamese Society 

  Food of vietnam  

  Vietnamese Recipes 

   Vietnamese Culture      A glance at Vietnam  

Custom Search
  Vietnamese Music and Performing Arts       Vietnam History    
   Vietnam Reading Tour       Diet and Fitness  
 Quick Tour of Vietnam With Pictures      Vietnamese Music  

Read in Vietnamese - Bằng Tiếng Việt (Việt ngữ)