|
Images of Vietnam
in 1884-1885 after the final French Invasion
Những
tấm hình của Bác Sĩ Hocquard
hay
là hình ảnh của Việt-Nam vào những năm 1884-1885
Năm
1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp
tới xâm chiếm Việt Nam với tính cách là bác sĩ
quân y, nhưng ông cũng là một nhà nhiếp ảnh viên
đại tài.
Những
tấm hình nầy có một giá trị lịch sử
rất lớn. Ðây là lúc mà Pháp sắp sửa chiếm
hết Việt Nam và đây cũng là những hình ảnh
duy nhất còn sót lại mà chúng ta thấy được
những thành trì khi xưa.
Sau
khi chiếm thành Hà-Nội lần thứ hai vào năm 1882
(Tổng Ðốc Hoàng Diệu tự tử với thành), quân
Pháp tiến về biên gìới phía Bắc vì lúc bấy
giờ triều đình Huế đã âm thầm yêu
cầu Giặc Cờ Ðen (và sau đó là quân đội
Trung Quốc) giúp Việt Nam đánh Pháp. Lúc bấy gìờ
Trung Quốc vẫn coi Việt Nam như là "thuộc
quốc" của mình nên được dịp họ tràn
qua chiếm nhiều tỉnh phía Bắc vùng biên giới.
Ðể
phản công, Pháp tung hải quân đánh chiếm được
những đảo Pescadores và Formose (Taiwan) của Trung
Quốc nhưng Pháp không đủ quân để đánh
với một nước 400 triệu dân nên tìm cách
giảng hoà trong hiệp ước ký tại Thiên Tân ngày
9 tháng 6 năm 1885 trong đó Trung Quốc chấp nhận là
không còn coi Việt Nam là "thuộc quốc" của
mình nữa và hứa là sẽ tôn trọng lãnh thổ
Việt Nam mà các đường biên giới sẽ
được 2 nước (Pháp & Trung quốc) xác
định sau. Lúc đó coi như Pháp đã hoàn toàn thôn
tính nước ta.
Ngày
5 tháng 7 năm 1885, Vua Hàm Nghi kêu gọi toàn dân nổi
dậy chống Pháp, phong trào Cần Vương ra đời.
Lúc
nầy thì Ông Bác Sĩ Hocquard trở về Pháp để
nhường chổ cho... ông Bác Sĩ Neis, đại
diện cho bộ ngoại giao Pháp tới Việt Nam để
tham dự trong phái đoàn vẽ đường biên
giới với Trung Quốc. Ông Bác Sĩ Neis cũng có
viết hồi ký kể lại chuyến công tác nầy mà
các bạn có thể đọc ở một cái site
bằng tiếng Pháp mà tôi để địa chỉ
ở trong trang web liên mạng. Ðây cũng là một
biến cố quan trọng cho lịch sử Việt Nam vì
đây là lần đầu tiên mà Việt Nam (do Pháp đại
diện) đã ký kết với Trung Quốc trên giấy
trắng mực đen về những đường ranh
giới (trước đó chỉ là sự thỏa
thuận ngầm).
Những
tấm hình của Ông Bác Sĩ Hocquard được
xuất bản bởi Trung Tâm Tồn Trữ Dữ
Liệu Thuộc Ðịa ở Aix-en-Provence.
(Bấm nút
trên cái hình nhỏ để phóng đại nó ra, sau
đó thì dùng nút "Précédente" (hay "Back")
của navigateur để trở lại trang nầy)
Thành
Bắc-Ninh (1884)
Bắc-Ninh ngày hôm sau, sau khi
thất thủ (13-03-1884)
|
Cửa thành Bắc-Ninh mà quân
đội Pháp đã tràn vào
|
Kho gạo và chòi canh của
thành Bắc-Ninh
|
Thành Bắc-Ninh
|
Thành Bắc-Ninh bị pháo
binh Pháp oanh tạc
|
Ðiện thờ chánh (?)
của thành Bắc-Ninh
|
Voi của Tổng Ðốc
Bắc-Ninh
|
Súng ống của Giặc
Cờ Ðen mà Pháp tịch thu được
|
Vũ khí của Giặc
Cờ Ðen (GCÐ) bị Pháp tịch thu
|
Ðồn nhỏ do Giặc
Cờ Ðen (GCÐ) dựng lên ở Bắc-Ninh
|
Ðồn nhỏ do GCÐ
dựng lên ở gần Bắc-Ninh
|
Chiến hào do GCÐ dựng lên
ở gần Bắc-Ninh
|
Thành
Sơn-Tây (1884)
Thành Sơn-Tây
|
Cửa Ðông của thành Sơn-Tây
|
Cửa Nam của thành Sơn-Tây
|
Cửa Ðông (hoặc Tây!) mà
quân Pháp tràn vào thành
|
Thành Sơn-Tây nhìn từ trên
đỉnh vọng canh
|
Bên trong của thành
|
Vòng rào phía Bắc của
thành
|
Vọng canh và hồ
chứa nước của thành
|
Ngoại thành, buổi
chiều ngày thất thủ
|
Hầm chứa súng cà-nông
|
Chùa được biến
thành thành trì ở Hôi-Dông (hướng Tây thành Sơn-Tây)
|
Chùa được biến
thành thành trì ở Hôi-Dông (hướng Tây thành Sơn-Tây)
|
Chùa Phu-Ni gần Sơn-Tây
|
Một chùa nhỏ gần Sơn-Tây
|
Một đền làng
gần Sơn-Tây
|
Làng gốm gần Sơn-Tây
|
Thành Hưng-Hóa
(1884)
Hầm trủ ẩn của
Giặc Cờ Ðen (GCÐ) ở Hưng-Hóa
|
Hầm trủ ẩn của
GCÐ dọc theo dòng sông Hồng gần Hưng-Hóa
|
Hầm trủ ẩn của
GCÐ dọc theo dòng sông Hồng gần Hưng-Hóa
|
Hầm trú ẩn của quân
Trung quốc ở Hưng-Hóa
|
Chiển lũy với vòng rào
bằng tre ở Hưng-Hóa
|
Lối vào đường
hầm ở Hưng-Hóa
|
3 vòng chiến lũy
bằng tre của quân đội Trung Hoa ở phía
Bắc Hưng-Hóa
|
Thành lũy bằng tre
của quân Trung quốc ở Hưng-Hóa
|
Thành lũy do quân đội
Trung Quốc xây cất ở Hưng-Hóa
|
Pháo binh Pháp đang vượt
qua sông Ðà để tiến về Hưng-Hóa
|
Cổng làng Trạch-Mai
|
Cổng làng Trạch-Mai
|
Phong cảnh trên đường
tới Hưng-Hóa
|
Cầu nổi bằng tre mà
quân Pháp dùng để qua sông Ðà
|
Sông Ðà gần Bat-Bac
|
Một ngôi chùa trên một
cù lao giữa sông Hồng gần Hưng-Hóa
|
Bức tường thành và
vòng hào của thành Hưng-Hóa
|
Vòng rào bằng tre và
chiến lũy của của thành Hưng-Hóa
|
Quân Pháp nghỉ chân trên
đường tiến về Hưng-Hóa
|
Cảnh điêu tàn của
đường phố Hưng-Hóa sau cuộc
chiến
|
Phủ
Doãn (1884)
|

Dòng sông Claire ???
phía trên Phủ Doãn
|

Lính người
algérien ở Phủ Doãn
|
Làng
Phu-Xa (1884)
|

Những chướng
ngạy vật để giảm bước
tiến quân Pháp ở làng Phu-Xa
|
Thành
Nam-Ðịnh (1884)
Cổng thành Nam-Ðịnh
|
Cổng thành Nam-Ðịnh
bị pháo binh Pháp dội sập
|
Tháp canh của thành Nam-Ðịnh
bị pháo binh Pháp bắn trúng
|
Súng thần công của Pháp
cho (?) bị hủy hoại ở thành Nam-Ðịnh
|
Một ngôi chùa ở Nam-Ðịnh
|
. |
Ðền thờ chánh của
thành Nam-Ðịnh
|
Một ngôi chùa ở Nam-Ðịnh
|
Một kênh đào ở Nam-Ðịnh
|
Lồng chợ ở gần
Nam-Ðịnh
|
Một nhà thờ Thiên Chúa
Giáo ở Nam-Ðịnh
|
Phố Tàu ở Nam-Ðịnh
|
Ninh-Bình
(1884)
|

Tảng đá
lớn ở Ninh-Bình
|

Ðồn lính Pháp
ở trên tảng đá lớn ở Ninh-Bình
|
Ðáp-Cầu
(1885)
|

Thành trì và núi
ở Ðáp-Cầu
|
Phố
Kỳ-Lừa (gần Lạng-Sơn) (1885)
|

Thành phố
Kỳ-Lừa nhìn từ trên cao
|

Một con
đường ở Kỳ-Lừa
|
Thành
Chu (1885)
|

Thành Chu
|

Thành Chu
|
Lạng-Sơn
(tháng 2 năm 1885)
Quân Pháp dừng chân bên
bờ sông Claire gần Lang-Son
|
Nghỉ chân của những
người phu khuân vác trên con đường
tới Lạng-Sơn (1)
|
Con suối "Tím" trên
đường tới Lạng-Sơn
|
Bãi chiến trường ngày
12-05-1885 trên đường tới Lạng-Sơn
|
Lối vào của một thành
trì trên đỉnh núi gần Lạng-Sơn
|
Vùng phụ cận của
Lạng-Sơn
|
Thung lũng Pho-Vi gần
Lạng-Sơn
|
Lính Tập dừng chân
ở đồn Brulay
|
|
Ðại sứ Trung Hoa
tới mang tù binh về sau trận chiến
Lạng-Sơn
|
Vũ khí Pháp tịch thâu
được của quân Việt Nam
|
|
(1) Pháp gọi họ la
coolies, chữ nầy ám chỉ những người phu khuân
vác ở Á Ðông. Những người phu khuân vác đi
theo đoàn viễn chinh Pháp nầy bị chết rất
nhiều tại những vùng gần Lạng-Sơn vì
những mảnh quần áo mỏng manh của họ không
đủ chống lạnh trên miền rừng núi.(xin xem hình
của họ ở trang 7).
Ðồng-Sơn
(1884-1885)
|

Một thành trì
ở Ðồng-Sơn do quân Trung Quốc đóng
|
Thành
Hải-Dương (1884-1885)
|

Thành Hải-Dương
|

Cổng vào thành
Hải-Dương
|

Cảnh toàn
diện của thành Hải-Dương
|
Pa-Lang
(1884-1885)
|

Chợ PaLang,
ở giữa đường Hà-Nội Sơn-Tây
|
Phú-Hải
(1884-1885)
|

Một chòi canh
ở đồn Phú-Hải
|
Quân đội
Pháp (1884-1885)
Tàu chiến La Mutine
|
Tàu chiến Le
Pluvier
|
Tàu chiến Le Yatagan trên sông
Hồng
|
Tàu chiến
L'Eclair
|
Tàu chiến La Fanfare
|
Tàu chiến La Surprise trước
tảng đá lớn ở Ninh-Bình
|
Toàn bộ tổng tham mưu
của tướng Brière de Lisle
|
Toàn bộ tổng tham mưu
của tướng Millot
|
Pháo binh Pháp qua sông
|
Ðồn Pháp trấn giữ
tả ngạn sông Hồng
|
Lính thủy quân Pháp
|
Lính Tập ở miền
Bắc
|
Người
Trung Quốc (1884-1885)
Một thương gia Tàu
ở Hà-Nội
|
Một thương gia Tàu
ở Hà-Nội
|
Hai thanh niên Tàu
|
Một thanh niên Tàu con nhà giàu
|
Một người đàn bà
Tàu
|
Người Fou-Tcheou
|
Một người Tàu
|
Phu khuân vác người Tàu
|
Hàng binh Giặc Cờ Ðen
theo Pháp (mấy người nầy sau đó đã
bỏ trốn sau khi cắt đầu mấy ông
quan Pháp!)
|
Hai người Giặc
Cờ Ðen bị Pháp bắt ở Tuyên-Quan
|
Lính chánh quy của quân
đội Trung Quốc
|
. |
Những
hiệp ước Pháp-Hoa (1884-1885)
Ðại sứ Trung Hoa
tới hoà đàm sau vụ Lạng-Sơn
|
Ðại sứ Trung Hoa
tới hoà đàm sau vụ Lạng-Sơn
(9-6-1885)
|
Phái đoàn Việt Nam do
triều đình Huế gởi tới tướng
Millot
|
Phái đoàn Việt Nam
của triều đình Huế với mấy người
thông ngôn và mấy người mang huy chương
|
Ông quan phủ Phú-Hải
gần Hà-Nội, hai Ðại sứ của Huế và
ông Tổng-Ðốc Hà-Nội
|
. |
. |
. |
Hà Nội
(1884-1885)
Ðồn lính Pháp nằm phía
Bắc thành Hà Nội
|
Ðồn lính Pháp trấn
tại Hồ Tây
|
Ðiện Kính-Thiên bị lính
Pháp biến thành đồn trấn thủ
|
Ðiện Kính-Thiên bị lính
Pháp biến thành đồn trấn thủ
|
Cửa Bắc thành Hà
Nội, nhìn từ phía ngoài
|
Cửa Bắc thành Hà
Nội, nhìn từ phía trong
|
Cảnh thành Hà Nội nhìn
từ xa (cửa Sơn Tây)
|
Một đồn nhỏ
trong thành Hà Nội
|
Một góc thành Hà Nội
|
Một cửa vào thành Hà
Nội
|
Trại lính tập bên
bờ hồ Hoàn Kiếm
|
Nghĩa trang Pháp ở Hà
Nội
|
Cầu Giấy gần Hà
Nội nơi mà thiếu tá hải quân Françis
Garnier bị tử trận (ngày 21/12/1873) và 10 năm
sau lại đến lược trung tá hải quân
Henri Rivière (19/5/1883)
|
Thành phố Hà Nội nhìn
từ hồ Hoàn Kiếm
|
Bờ hồ Hoàn Kiếm
|
Chùa Báo ân
|
Chùa Báo ân (1)
|
Chùa Báo ân
|
Một tháp ở chùa Báo ân
|
Cầu Thế-Hức
đưa vào đền Ngọc-Sơn
|
Một cái tháp của chùa
Bảo-Ân bên bờ hồ Hoàn-Kiếm
|
Lối vào đền
Ngọc-Sơn bên bờ hồ Hoàn-Kiêm
|
Một cổng chùa gần Hà
Nội
|
Chùa Voi-Phục gần Hà
Nội (cách cầu Giấy khoãng 1Km). Pháp gọi là
chùa Balny vì lấy tên của đại úy
hải quân Adrien Balny bị tử trận tại
đây vào ngày 21/12/1873 (cùng ngày với Francis Garnier)
|
Một ngôi chùa nhỏ
nằm bên bờ Hồ Tây
|
Văn Miếu. Pháp gọi là
"la pagode des Corbeaux"
|
Những bia đá tiến sĩ
trong đền Văn Miếu
|
Chợ bán đồ đồng
|
Chợ bán đồ sắt
|
Chợ bán kim chỉ
|
Chợ bán thuốc Nam
|
Chợ bán đồ mây
|
Một con đường
của Hà Nội
|
Phố hàng Gai
|
Một ngày hội chợ
|
Một con đường
của Hà Nội
|
Một con đường
của Hà Nội
|
Phố bán đồ gốm
|
Phố bán gỗ
|
Một con đường
của Hà Nội bị bão tàn phá
|
Một hãng Pháp bên bờ sông
Hồng
|
Một nhà dòng Thiên Chúa Giáo
ở Hà Nội
|
Một vườn cây ở
Hà Nội
|
Xóm làm giấy gần Hà
Nội
|
Vùng lân cận Hà Nội
|
Nơi bán tre
|
Phong cảnh gần Hà
Nội
|
Phong cảnh tượng trưng
trên dòng sông Hồng gần Hà Nội
|
Phong cảnh bên bờ
Hồ Tây
|
Phong cảnh gần Hồ Tây
|
Một làng gần Hà
Nội
|
(1) Chùa
còn có tên là chùa Liên Trì và cũng còn được
gọi là chùa Quan Thượng vì do Tổng Ðốc Hà
Nội là Nguyễn Ðăng Giai xuất tiền xây. Tây
gọi chùa nầy là chùa Supplices (khổ hình) vì trong chùa
có nhiều hình tượng của thập điện diêm
cung dưới địa ngục. Chùa bị thiệt
hại nhiều khi Tây đánh chiếm Hà Nội, đến
năm 1892, khi nhà nước bảo hộ cho đấp
đường phía Ðông hồ Gươm thì chùa bị
triệt hạ hoàn toàn để xây nhà Bưu điện
Hà nội (Xin cám ơn ông Hoan Nguyen đã đóng góp tài
liệu nầy)
Con người
(1884-1885)
"An Nam" là danh
từ mà Trung Hoa dùng để gọi nước ta, ám
chỉ là vùng phía Nam đã được "an bình hóa".
Không biết vì lý do gì mà Pháp dùng chữ Annam để
gọi riêng miền Trung và chữ tĩnh từ (annamite)
của nó lại được dùng để gọi
người miền Trung... hoặc cả dân tộc
Việt Nam. Thí dụ như Pháp dùng danh từ "Lính an
nam mít" để chỉ đội quân Việt (từ
Bắc tới Nam) đi làm cho Pháp.
Cũng từ đó mà
tiếng Việt có từ "an nam mít" để
rồi ngày hôm nay có người chỉ gọi là "mít"
thôi !
Xưa Pháp gọi
miền Bắc là Tonkin, miền Trung là Annam và miền Nam là
Cochinchine. Indochine dùng để ám chỉ 3 nước Pháp
thuộc đó là Việt Nam, Lào và Cam-Bốt.
Con gái Hà Nội
|
Con gái Hà Nội
|
Con gái Hà Nội
|
Con gái Nam-Ðịnh
|
Người đàn bà
trẻ miền Nam
|
Người đàn bà
trẻ Sàigòn
|
|

Người đàn bà và
đứa con nhỏ
|
Một vũ công
|
Ðôi môi phồng vì ăn
trầu
|
Người phụ nữ
với chiếc nón quai thao
|
Vợ của một viên quan
gần Hà Nội
|
Một học trò (trí
thức)
|
Một học trò (trí
thức)
|
Một thông dịch viên
|
Gia đinh một thương
gia
|
Kép hát
|
Người đẹp
Bắc Kỳ
|
Một gia đình nhà giàu
|
Một xã trưởng trong
tỉnh Nam-Ðịnh
|
Một viên quan
|
Một viên quan ở Huế
|
Một viên quan
|
Một viên quan
|
Một viên quan
|
Một viên quan trong bộ thường
phục
|
Một viên quan trong bộ thường
phục
|
Quan án ở Hà Nội
|
Quan Bộ Hộ
|
Joseph Lai, thông dịch viên
của Tổng-Ðốc Hà Nội
|
Lính tập miền Nam và lính
tập miền Bắc (y phục cũ)
|
Lính tập miền Bắc (Linh
thú)
|
Lính tập miền Nam
|
Một gia đình lính
tập
|
Những thông dịch viên cho
quan Khâm sứ Hà Nội
|
Trí thức và thông dịch
viên làm việc cho quan Khâm sứ Hà Nội
|
Quan Tổng-Ðốc Hà
Nội và đoàn tùy tùng
|
Quan Tổng-Ðốc Hà
Nội và đoàn tùy tùng vào ngày 14-07-1884
|
. |
. |
Luật
pháp (1884-1885)
Trong quyển hồi ký,
Ông Bác Sĩ Hocquard nói rằng người Pháp gọi
những người chống Pháp là "giặc cướp"
(pirate), ông cũng có nói là ông rất phục những người
nầy vì sự can đảm phi thường của
họ, ông có dịp chứng kiến một người
"giặc cướp" ung dung ra pháp trường không
một vẻ sợ hãi (phải chăng là những
tấm hình dưới đây ?)
Một ông quan lo về pháp
luật
|
Một vụ xử "giặc
cướp" tại nhà Khâm sứ Hà Nội
|
Quan Phủ của Phủ Doãn
(sông Claire) và đoàn tùy tùng
|
Ba người "giặc cướp"
đốt nhà bị kết án tử hình bởi ông
Tổng Ðốc Nam Ðịnh
|
Một tử tội đi
về pháp trường
|
Xử trảm
|
Xử trảm
|
. |
Cuộc
sống hằng ngày (1884-1885)
Thợ đúc bạc
|
Thợ rèn
|
Dệt tầm
|
Kéo sợi
|
Một ban văn nghệ
|
Một nhóm nghệ sĩ
|
Một vở kịch vào ngày
14-07-1885
|
Vũ công
|
4 người vũ công
|
Hút thuốc phiện
|
Dân chúng Hà Nội
|
. |
Một trường Thiên Chúa
giáo ở Nam-Ðịnh
|
Dùng cơm trưa ở ngoài
trời
|
Bữa cơm trong trường
Thiên Chúa giáo ở Nam-Ðịnh
|
Cáng và những người
phục vụ cho Giám Mục ở một làng Thiên
Chúa giáo
|
Dân khuân vác (coolies)
|
Những người hái trà
|
Hà Nội, giã gạo
|
Dẫn trâu đi ra sông
|
Hà Nội, xe cút kít
|
Hà Nội người bán
heo
|
Hà Nội người câu cá
|
Dệt tơ
|
Một ngôi nhà đang
cất
|
Nhà an-nam-mít
|
Xóm nhà của dân phu khuân vác
trên bờ sông Hồng
|
Lò vôi
|
Một ngôi đền
thờ người sáng lập ra làng
|
Một cây cầu có ngói che
|
Một xóm làng an-nam-mít
|
Một làng nổi trên dòng
sông Claire
|
Kiểu làng an-nam-mít dọc
theo bờ sông Hồng
|
Một cái đền
|
Hà Nội, sân sau của
một nhà
|
Bàn thờ trước gió (ông
Thiên ?)
|
Một ngôi chùa (đền
?) nhỏ ở Ti-Cau
|
Một ngôi chùa (đền
?)
|
Ðồ kỹ nghệ
của miền Bắc
|
Những tấm bình phong
bằng gỗ chạm trổ trên một cổng chùa
|
Cây Bồ-Ðề hay cây Ða
|
Vùng Kẻ-Sở, một
chiếc bè lớn câu cá
|
Chế tạo giấy
|
Thuyền trên dòng sông
Hồng
|
|